Giờ đây thị xã Bỉm Sơn được cả nước bíêt đến không chỉ bởi thương hiệu Xi măng Bỉm sơn nổi tiếng mà còn vì nơi đây đã trở thành một vùng đất học với mái trường mang tên Trung học Phổ thông Bỉm Sơn.
Hơn 30 năm về trước, giữa một vùng đồi núi hoang vu, có thể nói là nơi rừng thiêng nước độc, đã mọc lên một nhà máy xi măng với thiết kế hiện đại nhất và công suất vào loại lớn nhất Việt Nam thời bấy giờ. Ngay sau đó một thị xã công nghiệp trẻ cũng ra đời với tên gọi Thị xã Bỉm Sơn- vùng công nghiệp động lực phía Bắc tỉnh Thanh.
Thị xã đã hình thành. Việc xây dựng các cơ sở giáo dục được coi là nhu cầu bức thiết. Nhà trẻ, lớp mẫu giáo, các trường tiểu học, trung học cơ sở lần lượt ra đời. Tuy nhiên, trong những năm đầu khai sinh ấy, con em thị xã Bỉm sơn vẫn phải lặn lội vượt qua quãng đường hơn chục cây số vào học tại trường cấp ba Hà trung, nay là trường THPT Hà trung. Mãi tới năm 1983 thị xã mới mở được trường cấp 3 cho con em mình.
Trường cấp 3 Bỉm Sơn- tên gọi thời bấy giờ- được xây cất trên một ngọn đồi nhỏ thuộc phường Lam Sơn với cơ ngơi ban đầu là ba phòng học lợp ngói xi măng và một dãy nhà cấp 4 có 5 phòng, lợp ngói đỏ là nơi làm việc của Ban giám hiệu và khu tập thể cho cán bộ giáo viên, nhân viên nhà trường. Đội ngũ giáo viên nhân viên nhà trường ngày mới thành lập chỉ gồm 23 người, hầu hết được điều động từ trường cấp 3 Hà trung ra, nên trường còn được coi là con đẻ của trường cấp 3 Hà trung. Ban Giám hiệu gồm các thầy Mai Xuân Chược- Hiệu trưởng, thày Nguyễn Sỹ Lục- Phó Hiệu trưởng và thầy Tạ Như Hoành- Phó Hiệu trưởng. Thày Chược sau này chuyển công tác về UBND Thị xã và nay đã nghỉ hưu. Thày Lục cũng đã nghỉ hưu nhiều năm nay. Thầy Hoành đã qua đời năm 2007 do tuổi cao sức yếu.
Lại nói về những ngày đầu trường mới thành lập. Khó khăn chồng chất như thử thách lòng người. Ai cũng biết “vạn sự khởi đầu nan” mà. Giữa bộn bề những thiếu thốn gian nan của một thị xã non trẻ sinh ra sau chiến tranh khốc liệt, mỗi cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện, cửa hàng, nhà ga, …. đều phải đương đầu với nhũng thử thách nhất định. Thiếu thốn đầu tiên phải kể đến là cơ sở hạ tầng. Trường có sáu lớp đã phải học hai ca. Ba phòng học lợp ngói xi măng chỉ đủ che nắng mà không thể giúp thầy trò chúng tôi tránh nóng, tránh mưa. Trời nắng, cái nóng của miền núi đá vôi khắc nghiệt tích tụ cả vào mái lợp rồi hắt xuống đầu thầy trò. Những tia nắng quái ác còn chiếu cả vào trang vở học trò loá cả mắt. Các em đùa rằng, ban ngày mà ngửa mặt lên là đã thấy sao trời. Trời mưa thì khỏi phải nói! Gió quạt tứ bề, nước mưa ào ạt xối xuống theo các rãnh ngói, thấm ướt hết cả vở học trò, giáo án của thầy, cô. Học trò dồn vào một góc để tránh mưa gió, thầy cô vẫn giảng bài vì không muốn bỏ lỡ chương trình.
Đội ngũ giáo viên những năm đầu rất mỏng. Mỗi môn học chỉ được biên chế từ một đến hai giáo viên. Hồi ấy tôi dạy tiếng Nga, còn nhớ có học kỳ phải dạy tới 28 tiết một tuần. Nhiều môn học khác cũng ở trong tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng. Tuy nhiên, niềm say mê nghề nghiệp và lửa nhiệt tình thì không hề thiếu. Tất cả mọi người đều tự nhắc mình và bảo nhau cùng cố gắng để hoàn thành nhiệm vụ ở mức tốt nhất.
Vào thời kỳ những năm 80 của thế kỷ trước, hay còn gọi là thời kỳ bao cấp, khó khăn thiêu thốn bao trùm toàn xã hội. Ngành Giáo dục- Đào tạo cũng không phải là ngoại lệ. Lương thấp, phụ cấp ít ỏi. Tất cả mọi nguồn chi tiêu đều phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Tất cả mọi nhu cầu thiết yếu đều được bao cấp nhưng Nhà nước lại không có đủ để cấp. Giáo viên chúng tôi đã phải tìm đủ cách, làm đủ việc để có thể vượt qua được giai đoạn khó khăn ấy. Chúng tôi tận dụng khoảng thời gian rảnh rỗi hiếm hoi sau giờ lên lớp tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống hàng ngày. Chúng tôi chăn nuôi gà, lợn, cuốc đất đồi trồng sắn, mượn đất trồng lúa, ngô, lạc, đậu … cũng lao động trên đồng ruộng như những nông dân thực thụ.
Cùng với niềm tin về một ngày mai tươi sáng hơn, một tương lai tốt đẹp hơn, chúng tôi đã sống, đã cống hiến và đã gieo vào trái tim học trò hạt giống của sự sáng tạo, đức hy sinh và tình yêu cuộc sống. Và học sinh thân yêu của chúng tôi cũng đã không phụ lòng thầy cô. Các thế hệ học sinh Bỉm Sơn, bằng ý chí và nghị lực của mình, đã tạo nên thương hiệu nhà trường, để đi đâu và làm gì các em cũng có quyền tự hào về cái nôi mình đã sinh ra và trưởng thành.